Các nội dung chính trong chẩn đoán siêu âm sản phụ khoa

 CÁC NỘI DUNG CHÍNH TRONG SIÊU ÂM SẢN PHỤ KHOA

Mục tiêu: 

1. Lựa chọn đầu dò trong siêu âm SPK

2. Chuẩn bị và phương pháp thăm khám

3. Chỉ định trong siêu âm SPK

4. Các nội dung chính cần đánh giá trong siêu âm SPK

I. CÁC LOẠI ĐẦU DÒ SIÊU ÂM TRONG SPK

Siêu âm là phương pháp CĐHA đầu tay trong đánh giá thai và phần phụ.

Siêu âm thường được sử dụng trước CT và MRIs vì nhiều ưu điểm như: có thể làm đi làm lại nhiều lần, không gây nhiễm tia xạ, giá thành rẻ, có thể thực hiện ở nhiều sơ sở y tế. 

Đầu dò trong siêu âm SPK: có các 4 loại

Đầu dò âm đạo trực tràng – tần số cao (2D, 3D): hình dài, đưa vào trong âm đạo, áp sát vào cổ tử cung. Vì tần số cao nên độ phân giải tốt, các hình ảnh được phóng đại, to rõ ràng.

Đầu dò Convex (2-5MHz): cong, áp dụng trên bụng BN, có thể siêu âm các tạng sâu. "Đầu dò có tần số cao thì độ đâm xuyên nông hơn, tần số thấp thì đâm xuyên sâu hơn". Do vậy đầu dò Convex có thể đánh giá các tạng sâu như gan, tụy, lách, thận, động mạch chủ, tĩnh mạch chủ,.. Có thể dùng trên khớp mu của bệnh nhân siêu âm qua thành bụng, qua bàng quang để đánh giá thai nhi trong tử cung. Với thai nhỏ, phải cho bệnh nhân nhịn tiểu để làm đầy bàng quang, đẩy quai ruột lên (Ruột có nhiều khí).

Đầu dò khối 3D, 4D: trên nền tảng của siêu âm 2D, khác ở chế độ dựng hình. 

Đầu dò Linear (7-12 MHz): Đầu dò phẳng, siêu âm tạng nông như tuyến vú, tuyến giáp, mạch máu, tổ chức dưới da, vết mổ.

Có thể áp dụng 2 hoặc 3 đầu dò để tiếp cận chẩn đoán chính xác hơn. 

Siêu âm đen trắng hoặc siêu âm màu (Doppler màu): Siêu âm màu là siêu âm có tín hiệu dòng chảy mạch máu. (Máy siêu âm có màn hình nhiều màu không phải là siêu âm màu). 

1. LỰA CHỌN ĐẦU DÒ CONVEX

Siêu âm đầu dò Convex:
Siêu âm thai > 7 tuần
Siêu âm phụ khoa ở những PN chưa QHTD (nhịn tiểu để bàng quang đầy nước): Đáy bàng quang ngang đáy tử cung để đảm bảo tử cung được chắn bởi một lớp nước trong bàng quang. 
Siêu âm ổ bụng: gan, tụy, lách , thận, tiểu khung…

ƯU- NHƯỢC ĐIỂM SIÊU ÂM ĐẦU DÒ CONVEX
Ưu điểm: 
Không gây khó chịu cho BN
Đánh giá được nhiều cơ quan, bộ phận
Nhược điểm:
BN cần phải nhịn tiểu căng
Chất lượng hình ảnh không tốt: BN béo phì, ruột nhiều hơi, BN nhịn không căng nước tiểu

SIÊU ÂM QUA ĐƯỜNG BỤNG
Sơ đồ mô tả một bệnh nhân đang nằm ngửa, bàng quang căng nước tiểu, tử cung tư thế ngả trước. Đặt đầu dò trên bụng bệnh nhân, chùm tia siêu âm sẽ tỏa ra theo hình nan quạt đi xuyên qua bàng quang chứa đầy nước tiểu là môi trường đối quang âm tính, sẽ cho chất lượng hình ảnh rõ nét


2. LỰA CHỌN ĐẦU DÒ ÂM ĐẠO
Chỉ định Siêu âm đầu dò âm đạo trong Sản khoa: chẩn đoán thai sớm, bất thường giai đoạn sớm,.
Đánh giá túi thai ở giai đoạn sớm: cho hình ảnh rõ nét. Thai dưới 6w, thai chưa rõ tim thai, không có tim thai, tim thai mờ sẽ dùng đầu dò âm đạo vì độ phóng đại không gian tốt, độ nét tốt hơn. 
Theo dõi nhịp tim thai
Đánh giá vị trí túi thai (chửa sẹo mổ cũ, chửa thấp, đánh giá dấu hiệu dọa xảy…): TH thai nằm ở vị trí vết mổ cũ, thai nằm lệch về vết mổ, phần mềm đệm xâm nhập vào vết mổ,..
Kiểm tra vị trí bám của nhau thai: Đánh giá mức độ mép dưới bánh rau bám với lỗ trong cổ tử cung, rau bám mặt sau?
Do chiều dài cổ tử cung: Thai lớn đầu chèn xuống dưới nên đo Convex khó. Chiều dài CTC quyết định: Khâu eo tử cung? Dùng thuốc giảm co? Nhập viện? 
Trong siêu âm phụ khoa: khi BN đã quan hệ tình dục.
Xác định vị trí chảy máu bất thường…: có bong màng đệm không? Có tụ máu màng đệm (thai nhỏ) không? Bất thường ở niêm mạc, cơ hay cổ tử cung? Chửa ngoài tử cung?


Chỉ định Siêu âm đầu dò âm đạo trong Phụ khoa (với PN đã QHTD):
Khám phụ khoa hoặc đau bụng bất thường
Kiểm tra cổ tử cung
Chảy máu AĐ chưa rõ nguyên nhân
Đau vùng xương chậu
Nghi ngờ CNTC
Khám vô sinh
Kiểm tra u nang hoặc u xơ TC
Kiểm tra các khối viêm phụ khoa
Đánh giá dụng cụ tử cung

Với BN chưa QHTD: Siêu âm đầu dò Convex sau khi BN đã nhịn tiểu.


ƯU- NHƯỢC ĐIỂM SIÊU ÂM ĐẦU DÒ ÂM ĐẠO
* Ưu điểm
Chất lượng hình ảnh rõ nét, đặc biệt BN béo phì: Đầu dò tần số cao, áp sát tổn thương, phóng đại tốt. 
Thời gian thăm khám ngắn
BN không cần chuẩn bị gì
Dễ dàng thực hiện
* Nhược điểm
Gây tức, có thể khó chịu cho một số BN

Note: Đầu dò âm đạo áp sát túi cùng, không áp sát cổ tử cung. Do vậy có thể áp dụng ở cả TH BN đang ra máu dọa sảy. 

Phân biệt thành trước thành sau và tư thế tử cung trên siêu âm: Khi nào thấy Bàng quang thì là thành trước, thân tử cung gập về phía bàng quang thì là tử cung ngả trước. Thân tử cung gập về phía cách xa bàng quang thì là tử cung ngả sau.

VD: Tử cung ngả trước, thành trước tử cung có nhân giảm âm kích thước 10x20mm.

Buồng trứng: Cầm đầu dò thế nào đi nữa, chếch đầu dò sang P vẫn là buồng trứng P, chếch đầu dò sang T vẫn là buồng trứng T. 

3. LỰA CHỌN ĐẦU DÒ SIÊU ÂM LINEAR
Tần số cao, siêu âm các tạng nông
Chỉ định Siêu âm đầu dò Linear:
Khám tuyến vú, hố nách
Khám thành bụng
Đánh giá thai quý I
II. CHỈ ĐỊNH KỸ THUẬT SIÊU ÂM TRONG SẢN PHỤ KHOA
 *Sản khoa:
- Sau khi chậm kinh (SA Đầu dò): đánh giá tử cung, buồng trứng,..
- Theo dõi sự phát triển của thai
+ < 7 tuần: SA Đầu dò (đánh giá túi ối, bờ túi ối có đều không, kích thước thai, tim thai?)
+ 7-10 tuần 6 ngày: SA 2D (Đầu dò Convex, Linear). Đầu dò Linear sẽ áp dụng với thành bụng mỏng.
+ 11tuần 0 ngày – 13 tuần 6 ngày: Siêu âm hình thái (3D, 4D, 5D), Doopler ĐM TC (đánh giá TSG): Siêu âm và đánh giá các YTNC của TSG như lần thai trước, chị em gái mẹ,.. bệnh lupus,..: đo chỉ số PIGF kết hợp vs Doppler để tiên lượng nguy cơ TSG.
+ 14 tuần 0 ngày- 15 tuần 6 ngày: Siêu âm 2D (Đầu dò Convex): đánh giá đường kính lưỡng đỉnh, chu vi vòng đầu, kích thước xương đùi, chu vi vòng bụng và tim thai.
+ Từ > 16 tuần 0 ngày: SA 2D, SA hình thái, Doppler… (Đầu dò Convex)
*Phụ khoa: SA mọi thời điểm
Note: Chẩn đoán là chẩn đoán trên siêu âm 2D. Siêu âm 3D 4D 5D bản chất tương tự chỉ khác nhau về chế độ dựng hình, độ phân giải,..và không cao cấp hơn 2D.
          Siêu âm màu chỉ mang tính thương mại
          Sau mốc 11w, mốc nào cũng có thể siêu âm hình thái hết. 3 mốc chỉ là giới hạn tối thiểu. sau 34w thì ít làm vì thai sắp đẻ, tư thế gập, khó đo chiều dài xương mũi, thường làm Doppler thôi.
*Túi thai trong BTC:
- Tử cung ngả? Kích thước niêm mạc?
- Vị trí túi thai. VD: Túi thai GF 3mm, chưa có túi noãn hoàng chưa có mầm.
- Bờ túi thai
- Túi noãn hoàng: hình thái, kích thƣớc: Thường không mô tả kích thước túi noãn hoàng, nhưng túi noãn hoàng trên 10mm gợi ý thai không bình thường ( quý I, thai trên 10mm gợi ý thai ngừng phát triển, kích thước túi noãn hoàng bình thường là 2-8mm)
- Mầm thai (CRL), tim thai (tần số), cử động thai: Đo tim thai với thai từ 7w trở lên, dưới 7w thường không rõ.
- Màng đệm, dịch dƣới màng đệm (độ dày lớp dịch, tính chất lớp dịch): ví dụ dịch tăng âm gợi ý chảy máu dưới màng đệm cấp or bán cấp, dịch hóa gợi ý xuất huyết dưới màng đệm mạn tính,  màng đệm có cấu trúc nang dịch to nhỏ ruột bánh mì gợi ý thai trứng bán phần. 
- Buồng trứng, PP hai bên
*Thai 11 tuần 0 ngày- 13 tuần 6 ngày: Siêu âm hình thái
- CRL, NT khoảng sáng sau gáy (Percentile): Thống nhất dự kiến sinh theo CRL ở tư thế thai nằm chuẩn, không dựa theo Report (kích thước lưỡng đỉnh, chu vi vòng đầu, kích thước xương đùi, chu vi bụng chia đều bình quân), cũng không dựa vào ngày rụng trứng, ngày quan hệ.
- Nhịp tim thai
- Cử động thai
- Doppler ống tĩnh mạch Arantius
- Đo kích thước thai theo tham chiếu Hardlock (BPD, HC, FL, AC)=> Report
- Hình thái các bộ phận thai: sọ não, xương mũi, ngực, trục tim, lồng ngực, bụng, các chi…Với sự hiện đại của siêu âm, có thể chẩn đoán các bất thường tim thai ngay từ quý I (trước đây là quý II)
- Doppler động mạch tử cung 2 bên (tiên lượng tiền sản giật)
- Phần phụ của thai: rau, ối, dây rốn (số mạch máu, điểm cắm của dây rốn…)
- Phần phụ của mẹ
*Thai từ 14 tuần 0 ngày: Siêu âm 2D, 3D, với siêu âm 2D chỉ cần đo các kích thước và tim thai là đủ. 3D có thể đánh giá tất cả cấu trúc, bộ phận của thai. Tùy theo mục đích để lựa chọn.
- Các kích thước thai (BPD, HC, FL, AC) => Report (Percentile)
- Nhịp tim thai. 
- Cử động thai
- Hình thái các bộ phận thai: sọ não, xƣơng mũi, ngực, trục tim (cấu trúc
tim), lồng ngực, bụng, các chi…
- Phần phụ của thai: rau, ối, dây rốn (số mạch máu, điểm cắm của dây rốn…)
- Phần phụ của mẹ
CÁC NỘI  DUNG CẦN ĐÁNH GIÁ TRONG SIÊU ÂM PHỤ KHOA
*Số lượng tử cung: các hình thái của dị dạng TC
• Tư thế tử cung: ngả trước-sau-trung gian
• Kích thước tử cung
• Niêm mạc: 
- Độ dày, niêm mạc đồng nhất hay không (đo trên mặt cắt đứng dọc giữa)
- Dịch BTC: độ dày, tính chất dịch
- Khối BTC: KT, đường bờ, tính chất âm, Doppler màu…
• Cơ tử cung: 
- Cơ thành trước, thành sau, đồng nhất hay không đồng nhất
- Khối cơ TC: vị trí, KT, đường bờ, tính chất âm, vôi hóa, Doppler màu…
• Cổ TC: 
- Tính chất âm
- Mô tả đặc điểm tổn thương (nếu có)
• Buồng trứng hai bên: - Nhu mô BT
- Khối: KT, thành (dày, mỏng) đƣờng bờ (đều, không đều), tính chất âm (trống âm,
tăng âm, giảm âm), vách, nụ sùi, vôi hóa, Doppler…
• Cạnh buồng trứng, túi cùng…
Các tổn thương trên siêu âm chưa rõ ràng có thể chỉ định thêm MRIs. MRIs có ưu thế hơn CT scan trong khảo sát hình ảnh tổn thương vùng tiểu khung, bộc lộ rõ và phát hiện xâm lấn di căn tốt, quan sát rõ các lớp.

TC trung gian (intermedial position) khi trục của thân TC hợp với trục của cổ TC một góc 180 độ, tức là trục của thân TC cũng là trục của cổ TC


TC gập trước (anteflexion) khi trục của thân TC hợp với trục của cổ TC một góc 90 độ – 120 độ mở về phía trước.
Hyper-anteflexion khi góc này < 90 độ





TC gập sau (retroflexion) khi trục của thân TC hợp với trục của cổ TC một góc 90 độ – 1200 độ mở về phía sau.
Gọi là hyper-retroflexion khi góc này < 900




 TC ngả trước (anteversion) khi trục của cổ TC hợp với trục của âm đạo một góc 900 mở về phía trƣớc.
• TC ngả sau (retroversion) khi trục của cổ TC hợp với trục của âm đạo một góc 900 mở về phía sau.
• Ở 80% phụ nữ, tử cung có tư thế gập trước (anteflexion) và ngả trước (anteversion), đây là tƣ thế ít có nguy cơ bị sa sinh dục


CƠ TỬ CUNG
Cơ tử cung gồm 3 lớp, có thể phân biệt trên siêu âm:
– Lớp trong: mỏng, có hồi âm kém, bao quanh nội mạc.
– Lớp giữa: dày nhất, có hồi âm trung bình.
– Lớp ngoài: mỏng, có hồi âm kém hơn lớp giữa, ngăn cách với lớp giữa bằng các ĐM vòng cung (những cấu trúc ngoằn ngoèo như rắn bò (serpiginous structures), có tín hiệu Doppler màu.



Khi phổ màu thấy các đm xoắn chạy sát lớp ngoài


NIÊM MẠC TỬ CUNG
1. Thời kỳ ra kinh (N1-N5): nội mạc rất mỏng, < 4mm, hồi âm dày.
2. Thời kỳ tăng sinh (N6-N13): nội mạc dày lên, 4-8mm, hồi âm có 3 lớp.
3. Thời kỳ rụng trứng (N14): nội mạc dày hơn, 6-10mm, hồi âm có 3 lớp.
4. Thời kỳ sau rụng trứng (N15-N28): nội mạc dày nhất, 7-14mm, hồi âm dày. 12-14mm bắt đầu bong niêm mạc, bắt đầu hành kinh.



NANG NABOTH CỔ TỬ CUNG
 Nang Naboth thường thấy ở vùng cổ TC, kích thước từ vài mm đến 4cm.
• Chúng có thể đơn độc hoặc nhiều nang.
• Thường phát hiện tình cờ, tuy nhiên chúng có thể kết hợp với viêm cổ TC mạn tính. Nang nhỏ thường không có chỉ định điều trị, các nang có kích thước trên 10mm thường điều trị để tránh viêm đi viêm lại.
Nang Naboth thường có thành mỏng, dịch bên trong đồng nhất. Tuy nhiên nếu nang Naboth viêm, dịch tăng âm, dịch thành mức lắng, có phần tăng âm phần trống âm. 



U XƠ TỬ CUNG
PHÂN LOẠI ĐẠI THỂ (6 loại theo FIGO)
1. U xơ trong cơ (intramural fibroma).
2. U xơ dưới niêm mạc (submucosal fibroma).
3. U xơ dưới thanh mạc (submucosal fibroma)


U XƠ TỬ CUNG- UTERINE FIBROMA
PHÂN LOẠI SIÊU ÂM
1. U xơ trong cơ (intramural fibroma): không làm biến dạng đường nội mạc và bờ ngoài của TC.
2. U xơ dưới niêm mạc (submucosal fibroma): đội vào lòng TC => biến dạng đƣờng niêm mạc.
3. U xơ dƣới thanh mạc (subserosal fibroma): đội vào thanh mạc => biến dạng bờ ngoài của TC.


Hình ảnh nhân xơ tửcung có viền tăng âm vôi hóa xung quanh



– Một hoặc nhiều ổ hồi âm kém hoặc không đồng nhất, giảm âm phía sau.
– Vôi hóa thƣờng gặp, hoặc trong u hoặc tạo một viền quanh u.
– Thoái hoá nang ít gặp.
– Doppler: tƣới máu quanh u (peripheral vascularization).

U XƠ TỬ CUNG TRONG CƠ
Doppler mạch thấy có vòng ngoại vi tăng âm xung quanh nhân xơ


U XƠ TỬ CUNG DƯỚI NIÊM MẠC
Nhân xơ lồi vào trong buồng tử cung


Kỹ thuật siêu âm bơm nước buồng tử cung, buồng tử cung chứa đầy nước, nhân xơ nằm trong lớp cơ, lồi vào trong buồng


U XƠ TỬ CUNG DƯỚI THANH MẠC
Vascular bridging sign (dấu hiệu cầu mạch máu): u xơ lớn dưới thanh mạc (lành tính) có thể lầm với u đặc buồng trứng (có thể ác tính).
Để phân biệt ta dựa vào dấu hiệu cầu mạch máu:
– Sự hiện diện của nhiều cấu trúc mạch giữa tử cung và cấu trúc bệnh lý đƣợc gọi là dấu hiệu
cầu mạch máu –> khối u là u xơ dƣới thanh mạc.
– Không có dấu hiệu này –> U đặc buồng trứng.
Nhân xơ lồi hẳn ra, vào trong ổ bụng, chỉ dính với tử cung một phần của thân nhân xơ




U CƠ-MỠ TỬ CUNG – LIPOLEIOMYOMA
U lành tính hiếm gặp, ngoài cơ trơn, mô liên kết còn có mô mỡ.
Hình ảnh siêu âm là khối hồi âm dày, kèm giảm âm phía sau






LẠC NỘI MẠC TRONG CƠ TỬ CUNG – ADENOMYOSIS
Bình thường nội mạc tử cung nằm trong buồng tử cung. Vì một lý do chưa rõ, nội mạc tử cung nằm rải rác ở các vị trí khác nhau, cơ TC, thành ống TH, túi cùng, thành BQ, đm chậu, trung thất, hốc mũi,.. Một số TH mổ đẻ, nội mạc lạc ở thành bụng, siêu âm thành bụng thấy cấu trúc giảm âm ấn rất đau, kinh nguyệt kéo dài ra máu nhiều đau bụng nhiều,..
• Adenomyosis là lạc nội mạc tử cung trong cơ TC (endometriosis interna).
• Tổn thương có thể khu trú (ít gặp) hoặc lan tỏa (chiếm đa số) kết hợp phì đại cơ TC ở kế cận.
• Triệu chứng bao gồm: đau bụng kinh, rối loạn kinh nguyệt, vô sinh.
• Bệnh thƣờng gặp hơn ở phụ nữ đa có con.




PHÂN LOẠI LẠC NỘI MẠC TRONG CƠ TỬ CUNG –ADENOMYOSIS
-- TC to ra do có sự tăng sản cơ trơn cạnh tổn thương) dạng hình cầu (globular uterus) cấu trúc hồi âm không đồng nhất. Xoá mờ ranh giới giữa cơ và nội mạc TC, có thể cho hình ảnh giả dày nội mạc TC.
– Bề dày cơ tử cung không đối xứng, dày hơn ở phía có tổn thương.
– Tổn thương có giới hạn không rõ, biểu hiện là những vùng giảm hồi âm hoặc hồi âm không đồng nhất (75% trường hợp).
+ Vùng giảm hồi âm tương ứng với cơ trơn tăng sản.
+ Vùng hồi âm không đồng nhất tƣơng ứng với những đảo nội mạc TC lạc chỗ bao quanh bởi cơ trơn TC hồi âm kém.
– Những nang nhỏ < 5mm cạnh nội mạc (50% trường hợp) (do tuyến dãn dạng nang hoặc là những ổ xuất huyết).
– Những đường hồi âm dày từ nội mạc băng ngang vào lớp cơ trong (linear striations).
– Doppler: Khác với U xơ có tưới máu quanh u, lạc nội mạc TC tưới máu lan toả (raindrop appearance), RI thấp (< 0.7).
Những TH lạc nội mạc tử cung dạng khối rất khó chẩn đoán, buộc phải phẫu thuật, sử dụng GPB.


Thành trước đồng nhất, thành sau TC to ra, không đồng nhất, hình ảnh rèm che. Nhiều vùng tăng hồi âm và những cấu trúc nang nhỏ trong tổn thương. Khi phổ màu sẽ thấy tưới máu toàn bộ. Cấu trúc gây hiệu ứng khối, đẩy niêm mạc cong lên. Cấu trúc kích thích niêm mạc có thể có rong kinh đi kèm.
Nang nhỏ dưới niêm mạc rất gợi ý cho chẩn đoán lạc nội mạc trong cơ TC

POLYPS NỘI MẠC TỬ CUNG- HÌNH ẢNH SIÊU ÂM


Cấu trúc tăng âm lồi vào buồng, có chân bám. Cần phân biệt với u xơ L3. Phổ màu trên Doppler sẽ thấy, nếu chỉ có một cuống mạch đi vào thì là Polyp buồng, nếu có mạch chạy xung quanh là U xơ. TH không điển hình sẽ phải mổ nội soi, làm GPB.



- Polyps nội mạc TC trên SÂ bơm nƣớc
- Mạch máu nuôi trên Doppler màu–> Polyp nội mạc

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
POLYPS NỘI MẠC TỬ CUNG- U XƠ DƯỚI NIÊM MẠC
Một cấu trúc lồi vào trong BTC trên siêu âm bơm nước, bờ không đều, dựa vào Doppler

 Polyp nội mạc tử cung có hồi âm dày. U xơ dưới niêm mạc có hồi âm kém

UNG THƯ CỔ TỬ CUNG (CERVICAL CARCINOMA – CERVICAL CANCER)
Chẩn đoán sớm và dễ dàng bằng Pap smear chứ không phải bằng SA.
• SA giai đoạn tiến triển: khối hồi âm bất thường làm phồng to cổ TC, tổn thương có thể lan lên vùng eo và thân TC cũng như lan xuống âm đạo.
• Giai đoạn muộn, ung thư có thể xâm lấn thành sau bàng quang, niệu quản, trực tràng.
• Di căn hạch vùng chậu
Hình ảnh K cổ tử cung ở phụ nữ mãn kinh: Tử cung kích thước khá nhỏ, có những tổn thương thâm nhiễm ở thành trước, thành sau, cổ tử cung, bàng quang, lồi vào cả lòng bàng quang, thành sau tổn thương xâm nhập vào cả thanh mạc trực tràng. Những TH này thường xuất hiện hạch chậu 2 bên. TRên 3 hình ảnh cắt dọc d,e,f và 2 hình ảnh cắt ngang b,c thấy, tử cung nhỏ có ử dịch trong buồng, kích thước cổ phì đại, có vẻ giảm âm, bờ không đều, thâm nhiễm cả thành trước thành sau. Phổ màu thấy mạch máu tăng sinh? Hạch chậu? Vi vôi hóa?


KỸ THUẬT SIÊU ÂM BUỒNG TRỨNG
Nhu mô buồng trứng hơi tăng âm một chút, các nang trứng cơ sở, nằm ở phần ngoại vi buồng trứng. (nếu một khối thuộc buồng trứng, các nang nhỏ sẽ bao quanh khối, ví dụ u nang buồng trứng. Nếu nang nhỏ nằm cạnh khối thì khối ở cạnh buồng trứng, ví dụ ứ dịch vòi trứng) 

 Đo kích thước BT 3 chiều
 Thường là siêu âm đầu dò âm đạo

CÁC ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM CẦN MÔ TẢ

Unilocular cyst
Nang một thuỳ
Nang dạng một thuỳ.
• Không có vách,
• Không có phần mô đặc hay
không có chồi
Nang thuần nhất, nằm trên.., kích thước.., thành mỏng, đồng nhất, không có nụ sùi, thành nang không có mạch trên Doppler


Unilocular-solid cyst
Nang một thuỳ-đặc
BT P có một khối hỗn hợp âm, gồm phần đặc và phần dịch, bờ khối không đều, kích thước.., phần dịch không đồng nhất, đo phần đặc thấy kt..., bờ phần đặc nham nhở, trong phần đặc có vôi hóa, tăng sinh mạch trên Doppler màu, bờ ngoài có giảm âm xâm lấn, có hạch tiểu khung? dịch ổ bung? di căn gan thận?



Multilocular cyst
Nang nhiều thuỳ
 Nang có ít nhất một
• vách và
• Không có thành phần
• đặc và
• Không có chồi

Nang bên trong có vách thành mỏng, nhiều nang nhỏ

Multilocular-solid cyst
Nang nhiều thuỳ-đặc
Thành nang phía ngoài mỏng, bờ đều, trong nang nhiều vách, vách có chồi bờ không đều vôi hóa chưa rõ tín hiệu dòng chảy trên Doppler màu 


Solid
U đặc
Khối đặc trong có hốc dịch nhỏ, hốc lớn nhất kích thước.., bờ...

TÓM LẠI
Siêu âm là phương pháp CĐHA đầu tay trong đánh giá thai và phần phụ:
- Không độc hại
- Giá thành rẻ
- Có thể tiến hành nhiều lần
- Đơn giản, dễ thực hiện
- BN không cần chuẩn bị gì
• Siêu âm:
- Đánh giá thận trọng, chi tiết, tỉ mỉ
- Phối hợp với triệu chứng LS, CLS=>Lập luận đưa ra kết luận chẩn đoán và hướng xử trí.
• Những trường hợp cần đánh giá thêm có thể phối hợp với chụp CT scan (không dùng với thai), MRIs (nên sử dụng MRIs không tiêm đối quang từ do các tác hại của thuốc đối quang từ với thai vẫn chưa rõ)









Nhận xét