Chuyên đề CTG cơ bản trong sản khoa (ĐHYD Huế)

 Chuyên đề CTG cơ bản trong sản khoa (ĐHYD Huế)

I. Đại cương

1. Giới thiệu monitoring sản khoa:

Monitoring trong sản khoa là một phương pháp theo dõi tim thai bằng điện,

đã được sử dụng khá lâu và từ khi được ứng dụng cho đến nay người ta đều khẳng

định vai trò to lớn của nó trong theo dõi tim thai, đặc biệt trong những trường hợp

thai nghén có nguy cơ cao.

Ngày nay với sự tiến bộ trong công nghệ có nhiều thế hệ máy mới được ra

đời nhưng vẫn dựa trên nguyên tắc chung là ghi nhịp tim thai và cơn go tử cung liên

tục. Qua đó phát hiện các bất thường về nhịp tim thai và mối liên quan của các thay

đổi tim thai đó với cơ go tử cung. Đôi khi kết quả của monitoring giúp cho người

thầy thuốc quyết định xử trí đối với thai nhi. Như vậy vai trò của Monitoring trong

theo dõi thai là rất quan trọng và được xem như không thể thiếu trong Sản khoa hiện

đại.

Monitoring sản khoa có nhiều lợi ích như thế, tuy nhiên sẽ có những mặt

trái của CTG mang lại. Và một câu hỏi được đặt ra là việc theo dõi CTG liệu có ảnh

hưởng gì đến tỉ lệ mổ lấy thai hay không? Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới

được thực hiện để trả lời cho câu hỏi này. (Bảng 1)

Có thể nhận thấy trước 1980 có sự gia tăng tỉ lệ mổ lấy thai ở những sản

phụ theo dõi monitoring. Nhưng sau 1980 thì vẫn không có một nghiên cứu nào

chứng tỏ có sự gia tăng tỉ lệ mổ lấy thai ở những sản phụ theo dõi bằng CTG.4

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

Bảng 1: Thống kê các nghiên cứu tỉ lệ mổ lấy thai ở những sản phụ theo dõi CTG

Tên tác giả

Năm

thực

hiện

Số sản

phụ

Nguy

Tỉ lệ tử vong chu

sinh, điểm số Apgar,

pH máu cuống rốn,

vào ICU sơ sinh.

Tỉ lệ mổ lấy thai

Nhóm

theo

dõi

bằng

CTG

Nhóm

chứng

Haverkamp

và cộng sự 1976 483 Cao Không có s biệt ự khác 16,5 % 6,6 %

Renou và

cộng sự 1976 350 Cao

Giảm tỉ lệ PH máu

cuống rốn thấp và tỉ

lệ vao ICU sơ sinh

Không có sự khác

biệt các yếu tố khác.

22,3 % 13,7 %

Kelso và

cộng sự 1978 540 Thấp Không có s biệt ự khác 9,5 % 4,4 %

Haverkamp

và cộng sự 1979 690 cao Không có s biệt ự khác 18 % 6 %

Wood và

cộng sự 1981 989 Thấp Không có s biệt ự khác 4 % 2 %

MacDonald

và cộng sự 1985 12964 Thấp Không có s biệt ự khác 2,4 % 2,2 %

Luthy và

cộng sự 1987 246

Cao

kêt

hợp

sinh

non

Không có sự khác

biệt 15,6 % 15,2 %

Vintzileos

và cộng sự 1993 1428

Quân

thể có

tỉ lệ tử

vong

chu

sinh

cao

Giảm tỉ lệ tử vong

chu sinh.

Không có sự khác

biệt ở các yếu tố

khác

9,5 % 8,6 %

Herbst và

Ingemarrson 1994 4044 Thấp Không có s biệt ự khác 1,2 % 1 %5

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

2. Hình thức ghi CTG

Có 2 hình thức ghi CTG: đặt đầu dò ngoài và đặt đầu dò trong, tuy nhiên

hiện nay sử dụng phổ biến là hình thức đặt đầu dò ngoài.

Hình thức đặt đầu dò ngoài:

• Đặt đầu dò trên thành bụng

• Dễ thực hiện

• Không sang chấn

• Phổ biến hơn phương pháp ghi CTG

trong.

Cách đặt đầu dò

• Thai phụ nằm ở tư thế Fowler đầu cao

45°, nghiêng trái 15° nhằm tránh những

ảnh hưởng chèn ép lên vòm hoành và

tĩnh mạch chủ dưới, do đó tránh được tác

động gây nhiễu của tình trạng thiếu oxy

hay thiếu máu về tim.

• Đầu dò cơn co : bộ phận cảm biến cơn

co tử cung sẽ được đặt ở vùng gần đáy tử

cung, quanh rốn, nơi tử cung co với biên

độ lớn nhất và cũng là nơi thành bụng ít

dày nhất, cho phép ghi nhận sự thay đổi

áp lực một cách dễ dàng. Khi đặt đầu ghi

cơn co không được dùng gel, cũng

không siết dây đai quá chặt vì sẽ làm

thay đổi các trị số ghi nhận được về áp

lực đặt lên màng cảm ứng vốn dĩ đã

không phản ánh hoàn toàn trung thực

cường độ cơn co tử cung. Hình 1: Theo dõi tim thai bên ngoài

• Đầu dò tim thai : bộ phận ghi tim thai phải được đặt ở vùng ngực của thai

nhi, nơi sóng âm sẽ đi qua các khe gian sườn, hồi âm sẽ quay về đầu dò thu –6

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

phát. Phải dịch chuyển đầu dò trên vùng này đến khi nhận được tín hiệu tốt

nhất. Sở dĩ là như thế do khi ta dịch chuyển đầu thu – phát, góc của siêu âm

đến van tim và góc của đầu dò sẽ thay đổi. Cố định đầu dò thật tốt để ổn định

tín hiệu thu được. đầu dò van tin phải dùng gel để tăng khả năng dẫn âm.

2. Cơ sở sinh lý:

Thai phát triển trong tử cung nhờ có nguồn cung cấp dinh dưỡng, đặc biệt là

oxi từ hệ mạch máu của tuần hoàn tử cung- rau thai. Nếu có nguyên nhân nào đó

làm thay đổi nồng độ và áp suất này sẽ làm ảnh hưởng đến nồng độ oxi trong máu

của bào thai. Cuộc chuyển dạ bình thường, với các bào thai khỏe mạnh có thể chịu

đựng tình trạng thiếu oxi tạm thời này. Khả năng đáp ứng này được biểu hiện rõ rệt

qua nhịp tim thai.

3. Chỉ định dùng CTG

3.1. Trước khi chuyển dạ

Tình trạng thai phụ:

• Cao huyết áp hay tiền sản giật

• Đái tháo đường thai kì

• Ra huyết âm đạo

• Bệnh lý nội khoa: bệnh tim, thiếu máu nặng, cường giáp, bệnh mạch

máu, bệnh thận…

Tình trạng thai nhi:

• Thai nhỏ (thai chậm phát triển trong tử cung, nhẹ cân)

• Thai non tháng

• Thiểu ối

• Bất thường trên siêu âm doppler

• Đa thai

3.2. Trong khi chuyển dạ

Tình trạng thai phụ

• Ra huyết âm đạo

• Có tình trạng nhiễm khuẩn

• Giảm đau sản khoa: gây tê ngoài màng cứng7

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

• Tình trạng chuyển dạ

• Ối vỡ lâu

• Khởi phát chuyển dạ hay giục sinh

• Cơn go cường tính

Tình trạng thai nhi

• Ối có phân su

• Bất thường tim thai (phát hiện bằng nghe tim thai qua ống gỗ hoặc

doppler)

• Thai quá ngày sinh

II. Nhịp tim thai

1. Nhịp tim thai cơ bản

1.1. Định nghĩa:

Trị số tim thai cơ bản là trị số mà các giá trị tức thời của tim thai dao động

quanh đó với biên độ ±5 nhịp/phút, trong khoảng thời gian 10 phút với một băng

ghi trên 30 phút.

Hình 2: Nhịp tim thai cơ bản bình thường

Bình thường nhịp tim thai có giá trị từ 110 – 160 nhịp/phút. Trước đây giá

trị này có nhiều tranh cãi và chưa thống nhất nhưng theo những báo cáo gần đây của

các tổ chức lớn và có uy tín đều lấy giá trị từ 110 – 160 nhịp/phút.

 FIGO 2015 110 – 160 bpm

 ACOG 2009 110 – 160 bpm

 RCOG 2001 110 – 160 bpm8

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

 NICHD 1997 110 – 160 bpm

Nhịp tim thai phụ thuộc vào nhiều yếu tố, do đó không đơn thuần dựa vào

trị số của nhịp tim thai cơ bản để kết luận nhịp tim thai bình thường hay không mà

cần đánh giá thêm pH máu động mạch rốn, màu nước ối, tình trạng mẹ…Các yếu tố

có liên quan với nhịp tim thai: Tuổi thai, cử động của thai, thuốc, tình trạng mẹ

Nhịp tim thai thay đổi theo tuổi thai. Tuổi thai càng nhỏ nhịp tim thai càng

nhanh, vì người ta nhận thấy trong những tháng cuối thai kì thì vai trò của hệ phó

giao cảm nổi bật lên.

 32 – 42 tuần: 120 – 160 lần/phút

 Sau 42 tuần: 100 – 120 lần/phút

 Cao hơn khi chưa đủ tháng

Nhịp tim thai cũng thay đổi theo cử động của thai

Hình 3: Cử động của thai nhi

Hình 4: Biểu đồ tim thai tương ứng với cử động thai9

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

1.2. Nhịp tim thai nhanh

Định nghĩa: giá trị tim thai cơ bản vượt quá 160 nhịp/ phút. Nhịp nhanh

nghi ngờ: 160-180 nhịp/phút. Nhịp cực nhanh: > 180 nhịp/ phút.

Nguyên nhân của nhịp tim thai nhanh, bao gồm:

• Mẹ sốt, cường giáp

• Nhiễm trùng ối, thai

• Thai thiếu oxy giai đoạn đầu

• Gây tê ngoài màng cứng.

• Mẹ sử dụng các thuốc kích thích giao cảm ( Atropin)

• Rối loạn nhịp tim

Trong các nguyên nhân, mẹ sốt là nguyên nhân hay gặp nhất trên thực hành

lâm sàng. Khi mẹ sốt do bất kì nguyên nhân gì sẽ làm gia tăng lưu lượng tuần hoàn

làm tăng lượng máu tới tuần hoàn tử cung rau thai và qua phản xạ sẽ tác động lên

hành não làm tăng nhịp tim để thích ứng.

Giai đoạn đầu của tình trạng thiếu oxy, thai nhi bù trừ bằng cách tăng nhịp

tim, tái phân bố máu để cung cấp đủ máu giàu oxy tới những cơ quan quan trọng:

não, tim, tuyến thượng thận nhưng khi sự thiếu oxy kéo dài cơ thể thai nhi sẽ mất đi

sự bù trừ này.

Gây tê ngoài màng cứng có thể có cơ chế là do kích thích các hạch giao

cảm làm tăng nhịp tim người mẹ qua đó sẽ làm tăng lưu lượng máu qua tuần hoàn

tử cung – rau thai.

Cần tìm ra nguyên nhân gây ra nhịp tim thai nhanh : xác định nhiệt độ của

mẹ, mẹ có đang sử dụng thuốc hay không, kiểm tra tính chất, màu sắc nước ối. Để

phân biệt giữa nhịp tim thai nhanh có xuất hiện trong bối cảnh suy thai hay không,

quan trọng là xem xét tới sự có mặt của nhịp giảm và dao động nội tại.10

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

Hình 5: Nhịp tim thai nhanh

1.3. Nhịp tim thai chậm

Định nghĩa: là giá trị tim thai cơ bản < 110 nhịp/ phút kéo dài trong thời

gian >10 phút.

Giá trị của nhịp tim thai cơ bản chậm nhưng vừa phải tức là trong khoảng từ

100 - 119 trong giai đoạn chuyển dạ không được xem là bất thường mà thường gợi

ý cho sự chèn ép lên đầu thai nhi từ phía sau hay ngay tại chỏm nhất là trong giai

đoạn 2 của quá trình chuyển dạ.

Nghiên cứu của Young từ 1974 đến 1976 trên 1386 sản phụ thì nhận thấy

có 1,8% sản phụ có nhịp giảm chậm vừa phải trong chuyển dạ. Những đứa trẻ này

sinh ra được đánh giá chỉ số Apgar và tình trạng lâm sàng sau sinh cho kết quả bình

thường. Ông kết luận rằng nhịp tim thai chậm vừa phải gợi ý cho sự chèn ép đầu

của thai nhi chứ không phải là bất thường.

Nhịp tim thai chậm mức nhẹ có tỉ lệ bắt gặp khoảng 2% trong khi theo dõi

sản phụ và trung bình khoảng 50 phút. Theo Freeman và cộng sự (2003) đã kết luận

là giá trị nhịp tim thai cơ bản từ 80 tới 120 nhip/phút kèm với dao động nội tại tốt

có thể yên tâm. Các giá trị nhịp tim dưới 80 nhịp/phút cần phải theo dõi và đánh

giá.

Nguyên nhân nhịp tim thai chậm:

• Mẹ dùng thuốc chống cao huyết áp

• Mẹ tụt huyết áp, choáng, co giật, hạ thân nhiệt

• Ghi nhịp mẹ

• Thai già tháng

• Chèn ép rốn

• Rối loạn tim thai11

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

• Cơn co tử cung quá mức

Hình 6: Nhịp tim thai chậm

2. Dao động nội tại

2.1. Định nghĩa

Bình thường đường biểu diễn của nhịp tim thai cơ bản không phải là một

đường thẳng, mà là dao động xung quanh tần số trung bình của nhịp tim thai cơ bản,

khoảng dao động ấy ta gọi là DĐNT. Theo ACOG (2009) dao động nội tại là các

dao động xung quanh nhịp tim thai cơ bản. Các dao động này không đều đặn về

biên độ và tần số. Và được tính từ đỉnh của dao động cao nhất đến đỉnh của dao

động thấp trong 1 phút.

2.2. Phân loại

Dao động nội tại được chia thành 2 loại là ngắn hạn “short-term” và dài hạn

“long-term” nhưng những định nghĩa này cũng ít được sử dụng.

+ Dao động nội tại ngắn hạn “Short-term variability” (STV): phản ánh sự

thay đổi tức thời từ một nhịp tim thai đến nhịp kế tiếp hay chính là khoảng thời gian

giữa hai kì tâm thu kế tiếp nhau. STV được đo chính xác nhất khi có đặt một điện

cực tại da đầu của thai nhi

Hình 7: Dao động nội tại ngắn hạn12

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

+ Dao động nội tại dài hạn “Long-term variability” (LTV): phản ánh sự

thay đổi trong vòng một phút và đoạn khảo sát không có nhịp tăng hay nhịp giảm.

Trung bình sẽ có 3 – 5 chu kì trong vòng 1 phút.

Hình 8: Dao động nội tại dài hạn

Tuy nhiên như đã nói ở trên, hiện tại 2 khái niệm trên ít được sử dụng trên

lâm sàng. Theo Freeman và cộng sự (2003) thì không có bằng chứng cho thấy có sự

khác nhau của dao động nội tại giữa STV và LTV trên lâm sàng. Tại hội thảo

NICHD (1997) khuyến cáo rằng không nên phân biệt giữa STV và LTV và đề nghị

các tiêu chí đánh giá như trong các hình sau:13

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

Hình 9: (1) Mất dao động nội tại (2) Dao động nội tại tối thiểu ≤ 5 nhịp/phút (3)

Dao động nội tại trung bình 6 – 25 nhịp/phút (4) Dao động nội tại tăng ≥ 25

nhịp/phút (5) Dao động nội tại hình sin. (Adapted from National Institute of Child

Health and Human Development ResearchPlanning Workshop, 1997).

2.3. Ý nghĩa:

Dao động nội tại rất có giá trị, thể hiện chức năng tim mạch của thai nhi

đang được điều hòa tốt bởi hệ thống thần kinh tự động. Hệ thống này bao gồm giao

cảm và phó giao cảm có tác dụng làm tăng nhịp tim hoặc giảm nhịp tim qua trung

gian nút xoang nhĩ. Qua đó tạo nên tính chất dao động nhịp nhàng được gọi là

“beat-to-beat”, tức là khi nhịp tim thai tăng cao thì phó giao cảm làm giảm nhịp tim

xuống và khi nhịp tim thai giảm xuống thấp thì giao cảm có nhiệm vụ làm tăng nhịp

tim thai lên. Khi mất dao động nội tại tiên lượng cho thai nhi là xấu vì khi đó thai

nhi đã mất tác dụng điều hòa của giao cảm và phó giao cảm. Bất cứ tác động nào

lên hệ thống này sẽ biểu hiện tình trạng bằng tình trạng tăng hoặc giảm dao động

nội tại.

2.4. Tăng dao động nội tại:

Theo FIGO (2015) dao động nội tăng là khi vượt quá 25 nhịp/phút trong

một băng ghi kéo dài hơn 30 phút. Một số quá trình sinh lý và bệnh lý có thể ảnh

hưởng đến dao động nội tại. Pillai và James (1990) báo cáo về tăng dao động nội tại

ở những thai kì sớm. Trước 30 tuần, đặc điểm của nhịp thai khi thai ngủ và hoạt

động là giống nhau, sau 30 tuần dao động nội tại tăng khi thai hoạt động và giảm

khi ngủ. Sinh lý bệnh của quá trình vẫn chưa biết rõ tuy nhiên người ta nhận thấy có

sự liên quan đến sự xuất hiện của thường xuyên của nhịp giảm, khi có tình trạng

thiếu oxi hoặc toan hóa máu rất nhanh. Nguyên nhân được cho là có sự không ổn

định của các hệ thống thần kinh tự động.14

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

2.5. Giảm dao động nội tại

Cũng theo FIGO (2015) giảm dao động nội tại được định nghĩa khi giảm

dưới 5 nhịp/phút trong hơn 50 phút hoặc hơn 3 phút khi có nhịp giảm.

Giảm dao động nội tại là một tình trạng đáng lo ngại cho thấy thai nhi đang

bị tổn thương nghiêm trọng. Paul và cộng sự (1975) đã báo cáo trên 194 sản phụ

trong 20 phút đầu chuyển dạ có giảm dao động nội tại kèm nhịp giảm có tình trạng

toan hóa máu. Kết quả pH da đầu được đo 1119 lần ở những sản phụ này, giá trị

trung bình này có ý nghĩa hơn khi kết hợp với sự xuất hiện nhịp giảm.

Ví dụ: giá trị trung bình pH là 7,1 được phát hiện ở những sản phụ có nhịp

giảm nặng và dao động nội tại nhỏ hơn hoặc bằng 5 nhịp/phút. Và pH 7,2 ở những

người có nhịp giảm và dao động nội tại cao hơn.

Cơ chế của sự thiếu hụt oxi gây ra giảm dao động nội tại vẫn chưa rõ. Tuy

nhiên có một điều thú vị là thiếu hụt oxi mức độ nhẹ làm tăng dao động nội tại, ít

nhất là vào giai đoạn đầu của quá trình này.

Giảm dao động nội tại có thể do hệ thần kinh trung ương thiếu oxi hoặc

toan máu kết quả là giảm hoạt động của hệ giao cảm và phó giao cảm nhưng nó

cũng có thể do một nguyên nhân chấn thương não bộ trước đó, nhiễm trùng, thuốc

chẹn giao cảm, hoặc do não bộ tiết ra những chất gây trầm cảm. Trong giấc ngủ sâu

dao động nội tại thường giảm hơn bình thường nhưng hiếm khi dưới 5 nhịp/phút.

3. Nhịp tăng:

3.1. Định nghĩa:

Là sự gia tăng đột ngột của nhịp tim thai so với nhịp tim thai cơ bản.

Trước 32 tuần: nhịp tăng phải lớn hơn nhịp TTCB 10 nhịp trong thời gian

lớn hơn 10 giây và bé hơn 2 phút.

Sau 32 tuần: nhịp tăng phải lớn hơn nhịp TTCB 15 nhịp trong thời gian lớn

hơn 15 giây và bé hơn 2 phút.Gọi là nhịp tăng kéo dài là khi thời gian gia tăng của

nhịp tim thai >2 phút và <10 phút.. Nếu sự gia tăng nhịp tim thai >10 phút thì đó là

một sự thay đổi của nhịp TTCB.15

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

Hình 10: Nhịp tim thai tăng

3.2. Ý nghĩa:

Sự xuất hiện của nhịp tăng cho thấy sự đáp ứng tốt của thai nhi đối với các

kích thích, khẳng định rằng thai nhi không bị nhiễm toan tại thời điểm đó.

Krebs và đồng nghiệp (1982) đã phân tích CTG của gần 2000 thai nhi và

nhận thấy nhịp tăng trong 99,8% trường hợp, sự xuất hiện của nhịp tăng trong 30

phút đầu tiên và cuối cùng của cuộc chuyển dạ là một dấu hiệu tốt cho sức khỏe thai

nhi. Tuy nhiên khi không có nhịp tăng thì cũng không thể kết luận là bất lợi cho thai

nhi trừ khi kèm thêm với các biến đổi bất lợi khác (nhịp giảm, mất giao động nội

tại…) Clark và cộng sự (1984); Smith và các cộng sự (1986) cho rằng ở những

trường hợp không có nhịp tăng khi chuyển dạ thì số này có khoảng 50% sẽ bị nhiểm

toan khi sinh ra.

3.3. Cơ chế:

Xuất hiện của nhịp tăng là do các tác động lên giao cảm, nó xảy ra khi có

một thay đổi làm giảm áp xuất trên quai chủ và xoang cảnh. Một cử động thai làm

căng dây rốn, một sự chèn ép đơn thuần tĩnh mạch rốn… sẽ làm giảm lượng máu

tĩnh mạch về tim (Phải) thai nhi, qua đó làm giảm lượng máu qua lỗ Botal vào tim

(Trái), gây hậu quả làm giảm tống máu, từ đó làm giảm áp lực thủy tĩnh trên xoang

cảnh và quai chủ làm nhịp tim tăng lên để bù vào sự thiếu hụt của áp lực này.16

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

4. Nhịp tim thai giảm:

Định nghĩa: Nhịp giảm được định nghĩa là trị số tim thai tức thời giảm thấp

hơn trị số tim thai căn bản.

Nhịp tim thai giảm được chia thành 4 loại: nhịp giảm sớm, nhịp giảm

muộn, nhịp giảm biến đổi và nhịp giảm kéo dài.

Bảng 2: Đặc điểm của các loại nhịp giảm

4.1. Nhịp giảm sớm:

4.1.1. Định nghĩa:

Nhịp giảm sớm: là nhịp giảm mà trong đó trị số tim thai giảm tức trên 15

nhịp và thời giảm dần dần tức là khoảng thời gian từ khi trị số này bắt đầu giảm đến

khi nó đạt cực tiểu ≥ 30 giây.17

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

Hình 11: Nhịp giảm sớm

Thường xuất hiện song hành với cơn co tử cung với thời điểm: đồng thời

với cơn co, cân xứng và xảy ra trong cơn co tử cung với thời điểm mà trị số tim thai

đạt cực tiểu trùng với thời điểm mà cường độ cơn co đạt cực đại.

4.1.2. Ý nghĩa:

Susan Martin Tucker, Freemann đều động ý rằng nhịp tim loại này không có

ý nghĩa bệnh lý và không cần có can thiệp nào trong chuyển dạ. Khi cơn co của tử

cung mạnh nhất thì lúc đó nhịp tim thai nhi sẽ giảm thấp nhất song không quá 100 -

110 nhịp/ phút hay không hạ quá 20 - 30 nhịp so với nhịp tim thai cơ bản, có một

điều quan trọng là nhịp giảm sớm không có liên quan đến tình trạng thai suy hay bị

nhiểm toan hay chỉ số Apgar thấp. Tuy nhiên, khi phối hợp với nhịp tim thai nhanh

thì cần phải đánh giá lại.

4.1.3. Cơ chế sinh lý xuất hiện nhịp giảm:

Freeman (2003) giải thích là do đầu thai bị chèn ép trong tiểu khung khi có

cơn co tử cung, làm tăng áp lực nội sọ của thai, lưu lượng máu ở não giảm, dẫn đến

giảm O2 ở não của thai nhi, đồng thời kích thích trung tâm dây thần kinh phế vị (số

X) làm tim của thai nhi đập chậm, thế cho nên DIP I chỉ xảy ra khi cổ tử cung mở

khoảng 4 - 7 cm.

4.2. Nhịp giảm muộn:

4.2.1. Định nghĩa:

Nhịp giảm muộn còn được gọi là DIP II, đó là những nhịp giảm đồng nhất

và liên tục, thời gian bắt đầu nhịp giảm đến giá trị cực tiểu phải trên 30 giây và đỉnh

thấp nhất của đường biểu diễn nhịp tim thai xảy ra sau khi đỉnh cao nhất của cơn co18

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

tử cung xuất hiện, sự chênh lệch này trung bình 41 giây, hiếm khi đi kèm với nhịp

tăng (nhịp đáp ứng).

Hình 12: Nhịp giảm muộn.

4.2.2. Ý nghĩa:

Đối với nhịp tim thai này được xem như là dấu hiệu bệnh lý, rất xấu cho sự

sống còn của bào thai. Với Dip II, nhịp tim thai giảm khoảng 10-20 nhịp/ phút.

Theo AJOG (2001) tần suất xuất hiện nhịp giảm muộn có liên quan đến tình trạng

thiếu oxi máu của thai

4.2.3. Cơ chế sinh lý xuất hiện nhịp giảm muộn:

Trong thời kì mang thai, bình thường cơn co tử cung không ảnh hưởng đến

mức độ bão hòa oxy của máu thai nhi mặc dù nó ảnh hưởng đến huyết động của thai

có nghĩa là nhịp tim thai không đổi trước, trong và sau cơn co tử cung. Khi cơn co

của tử cung mạnh hoặc khi huyết áp của mẹ giảm, máu đến tử cung giảm, O2 trong

hồ huyết của bánh rau giảm và giảm mạnh ở những trường hợp chức năng của bánh

rau bị suy thoái, thai bị thiếu O2 sẽ chuyển hóa theo con đường kỵ khí, sự nhiểm

toan nhất là khi giảm DĐNT, cùng với việc dây thần kinh phế vị bị kích thích và

thiếu máu cơ tim của thai làm cho sự đáp ứng của thai chậm chạp hơn, sinh ra nhịp

tim giảm muộn. Nếu không được xử trí thì thai nhi sẽ chết sau 2 – 10 ngày.

4.2.4. Nguyên nhân:

Về phía mẹ:

• Hạ huyết áp19

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

• Tử cung co mau

• Mẹ mang thai hút thuốc lá

• Mẹ mắc các bệnh lý như hội chứng kháng cardiolipin, lupus ban đỏ…

Về phía thai:

• Phù nhung mao

• Lông nhung vô mạch

• Vôi hóa nhau thai

Nhịp giảm muộn với biến đổi tốt (phản xạ Lates) đôi khi xảy ra bởi các cơn

co tử cung quá mức hoặc hạ huyết áp của mẹ, có thể giảm nhẹ bằng cách xử trí các

nguyên nhân gây ra. Nhưng trong trường hợp giảm trao đổi qua nhau thai trong

trường hợp thai chậm tăng trưởng (IURG) thì các biện pháp dụng cụ tử cung để cải

thiện lưu thông máu hoặc cung cấp oxy cho thai nhi cũng có thể không có hiệu quả.

Nếu oxy tiếp tục giảm thì có thể dẫn đến nhiễm toan mô phôi thai, gia tăng

các chuyển hóa kị khí. Hiện tượng toan chuyển hóa máu có thể ức chế hệ thần kinh

của thai nhi, tổn thương não là điều không tránh khỏi.

4.3. Nhịp giảm biến đổi

4.3.1. Định nghĩa:

Nhịp giảm biến đổi được định nghĩa là sự giảm đột ngột của đường biểu diễn

tim thai bắt đầu bằng sự xuất hiện của cơn go tử cung và đạt đỉnh thấp nhất nhỏ hơn

30 giây. Nhịp giảm phải kéo dài từ 15 giây đến 2 phút và biên độ giảm ≥ 15 nhịp.

Vị trí khởi đầu của nhịp giảm thường khác nhau trong các cơn go kế tiếp nhau.

Nhịp giảm biến đổi khác nhau về hình dạng, độ sâu cũng như về thời gian, có

thể xuất hiện trong suốt cơn go hoặc giữa cơn go.20

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

Hình 13: Đặc điểm của nhịp giảm biến đổi

4.3.2 Ý nghĩa

Do nhịp giảm biến đổi đại diện cho một phản xạ điều hòa lưu lượng tuần

hoàn của thai, phản ánh sự thay đổi của huyết áp động mạch do cản trở tuần hoàn

cuống rốn hay tình trạng giảm oxi máu. Đó được xem như một phản xạ tự nhiên ở

thai nhi tuy nhiên nếu xuất hiện thường xuyên thì có thể là một tình trạng thiếu oxi

do chèn ép dây rốn. Theo ACOG (2013) thì nhịp giảm biến đổi xuất hiện thường

xuyên cùng với dao động nội tại ≤ 5 nhịp/phút được xem ở mức nghi ngờ và mất

dao động nội tại được xem là bất thường.

4.3.3. Cơ chế

Có 2 loại nhịp giảm biến đổi ở hình 14 được kí hiệu là A và B. Nhịp giảm B

khác nhịp giảm A có sự gia tăng nhịp tim trước và sau phần nhịp giảm. Nhịp giảm

biến đổi điển hình có hai phần “vai” hay còn gọi là shoulder xuất hiện 2 bên của

nhịp giảm. “Shoulder” còn gọi là pha nhịp tăng của nhịp giảm biến đổi. Nó là một

phần của nhịp giảm và không phải là nhịp tăng.21

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

Hình 14: Nhịp giảm biến đổi.

Lee và cộng sự (1975) đã đề xuất rằng hình dạng của nhịp giảm biến đổi

này là do mức độ chèn ép khác nhau của dây rốn. Khi có sự chèn ép rốn không hoàn

toàn vào tĩnh mạch rốn, lưu lượng máu đến thai nhi giảm qua đó các receptor nhận

cảm áp lực tại xoang cảnh và quai động mạch chủ bị giảm hoạt dẫn đến tăng nhịp

tim. Trong khi đó, sự xuất hiện của cơn go tử cung làm sự gia tăng áp lực buồng tử

cung và sự chèn ép dây rốn gia tăng và chèn ép hoàn toàn vào cả động mạch và tĩnh

mạch rốn. Huyết áp của thai lúc này tăng cao kích thích các receptor nhận cảm áp

lực làm giảm nhịp tim trở lại. Phần gia tăng nhịp tim phía sau cũng diễn ra tương tự.

Hình 15: Quá trình xuất hiện nhịp giảm biến đổi22

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

4.4. Nhịp giảm kéo dài

4.4.1. Định nghĩa:

Là sự giảm đột ngột của nhịp tim thai trên 15 nhịp kéo dài trên 2 phút hoặc

lâu hơn và không quá 10 phút cho đến khi quay trở lại nhịp tim thai cơ bản.

Hình 16: Nhịp giảm kéo dài do tử cung tăng hoạt động

4.4.2. Ý nghĩa

Khi nhịp tim thai nhanh kèm theo sự xuật hiện của nhịp giảm kéo dài phản

ánh một tình trạng gia tăng catecholamine hay gia tăng huyết áp để đáp ứng lại với

tình trạng thiếu oxi được gọi là sự phản ứng lại với nhịp tim nhanh (rebound

tachycardia). Thai nhi sẽ co mạch ngoại biên để dồn máu về các cơ quan trọng yếu

như não, tim và tuyến thượng thận. Đây là một phản ứng tự bảo vệ của thai nhi.

Nếu xuất hiện một nhịp giảm thì có thể đây chỉ là một phản ứng bảo vệ trước một

tình trạng thiếu oxy tạm thời.

Tuy nhiên nếu xuất hiện hai hoặc nhiều hơn thì đây là một dấu hiệu cảnh

báo, cần phải kiểm tra đến các nguyên nhân nêu trên như: chèn ép rốn, hạ huyết áp

và cần can thiệp bằng mổ lấy thai. Tiên lượng của loại nhịp này phụ thuộc vào sự

xuất hiện nhiều hay ít, đôi khi xuất hiện nhịp nhanh hay giảm DĐNT, sự phục hồi

của nhịp giảm này phụ thuộc vào bánh rau, theo Freeman (2003) cho rằng thai nhi

có thể chết với nhịp giảm kéo dài.

4.4.3. Nguyên nhân:

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nhịp giảm kéo dài. Nhịp giảm kéo dài rất

khó giải thích vì có rất nhiều tình huống lâm sàng khác nhau. Một số nguyên nhân23

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

thường gặp như nguyên nhân từ mẹ: tăng huyết áp, cơn go cường tính, động kinh

hay các nguyên nhân đến từ thai như chèn ép rốn, thiếu oxi ví dụ như hạ huyết áp từ

mẹ, tác dụng của thuốc tê lên thai.

III. Cơn go tử cung:

1. Sinh lý cơn go tử cung:

Cơn go tử cung được coi là động lực của cuộc chuyển dạ, nó đóng vai trò

quan trọng, không có cơn go tử cung sẽ không có chuyển dạ.

Từ tuần lễ 9- 10 trở đi tử cung có những go không đều và có thể nhận biết

được qua thăm khám nhưng không làm cho sản phụ đau. Trong chuyển dạ cơn go tử

cung mạnh hơn, đều đặn hơn, đặc điểm của cơn go tử cung trong giai đoạn này là:

tự nhiên, liên tục, nhịp nhàng và gây đau.

Cơn go tử cung trong một cuộc chuyển dạ bình thường tuân theo quy luật

tam giáng có nghĩa là: cơn go tử cung lan truyền từ đáy tử cung về phía đoạn dưới

và cổ tử cung, cường độ cơn go ở đáy tử cung mạnh nhất sau đó giảm dần về phía

đoạn dưới và cổ tử cung, thời gian co bóp ở đáy dài nhất sau đó giảm dần về phía

đoạn dưới và cổ tử cung. Với các tính chất trên của cơn go mới gây ra được sự xóa

mở của tử cung, sự thành lập đoạn dưới và quan trọng nó là động lực để đẩy thai ra

ngoài tử cung.

Cũng có không ít các trường hợp đẻ khó do rối loạn cơn go tử cung và nó

có thể dẫn đến những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho mẹ cũng như cho thai nhi,

nó còn được gọi là đẻ khó do rối loạn cơn go tử cung.

Chính vì lý do nêu trên mà việc theo dõi cơn go tử cung trở thành vấn đề

quan trọng trong theo dõi chuyển dạ.24

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

2. Phân tích cơn go tử cung qua monitoring

2.1. Các tiêu chí đánh giá cơn go tử cung:

Hình 17: Phân tích cơn go tử cung

Trương lực cơ bản: là áp lực tối thiểu giữa hai cơn go tử cung, trong quá

trình chuyển dạ tăng dần từ 5-20 mmHg, > 20 mmHg là tăng trương lực cơ bản.

Cường độ của cơn go tử cung: áp lực được đo từ đường đẳng điện cho đến

đỉnh của mỗi cơn go tử cung.

Cường độ hữu hiệu của cơn go tử cung: là từ đỉnh cơn go tử cung đến

đường biểu diễn trương lực cơ bản. Trong giai đoạn đầu của cuộc chuyển dạ, áp lực

cơn go từ 25-40 mmHg, giai đoạn 2 tăng lên 80-100 mmHg.

Tần số cơn go: là số cơn go trong 10 phút, thay đổi từ 3-5 cơn go trong 10

phút.

Thời gian co bóp: tính bằng giây, là thời gian bắt đầu cơn go cho đến khi

kết thúc cơn go, thay đổi từ vài chục giây đến tối đa là 80 giây.

Hoạt độ tử cung: tính bằng tích của tần số cơn go với cường độ của cơn go

tử cung nó được biểu diễn bằng đơn vị Montevideo:

• 30 tuần đầu: <20 UM

• 30- 37 tuần: có khi đạt đến 50UM, tần số không vượt quá 1 cơn go/1 giờ.

• Trong khi chuyển dạ, có thể đạt 250UM tương ứng với 5 cơn go trong vòng 10

phút.

2.2. Các rối loạn của cơn go tử cung

Các rối loạn về cường độ cơn go tử cung: cơn go tử cung có cường độ thấp

gọi là cơn go yếu, cơn go tử cung có cường độ mạnh gọi là cơn go mạnh.25

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

Các rối loạn về tần số cơn go tử cung: Cơn go tử cung có tần số ít còn gọi là

cơn go thưa, cơn go tử cung có tần số nhiều gọi là cơn go mau.

Các rối loạn liên quan đến thời gian co bóp: cơn go kéo dài, cơn go ngắn.

Các rối loạn liên quan đến khoảng cách giữa các cơn go: cơn go không đều

hay còn gọi là cơn go không đồng bộ.

2.2.1. Cơn go tử cung thưa yếu

Cơn go tử cung yếu tức là áp lực của cơn go yếu không tương xứng với độ

mở của cổ tử cung (áp lực thấp hơn 30mmHg), cơn go tử cung thưa tức là tần số

cơn go thấp hơn dưới 3 cơn go trong 10 phút và cơn go ngắn là thời gian cơn go

ngắn dưới 20 giây trong pha tiềm tàng và dưới 40 giây trong pha tích cực.

+ Chẩn đoán: cổ tử cung không tiến triển, cuộc chuyển dạ kéo dài sản phụ

sẽ mệt mỏi.

+ Tiên lượng: ảnh hưởng của nó đối với thai nhi không lớn, nhưng nó có

nguy cơ làm cho người mẹ mệt mỏi do chuyển dạ kéo dài và cuối cùng là suy thai.

2.2.2. Cơn go tử cung mau mạnh:

Cơn go tử cung mạnh khi cường độ cơn go trên 80 mmHg ghi áp lực trong

buồng ối.

Cơn go mau khi tần số cơn go vượt quá 6 cơn go trong 10 phút, hoặc cơn

go tử cung mau mạnh khi cùng một lúc tăng cả tần số và cường độ cơn go.

Hình 18: Ảnh hưởng của cơn go mau mạnh đối với thai nhi.26

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

Lưu lượng trong động mạch tử cung giảm 30% khi cơn go tử cung đạt cực

đại, khi đó áp lực trong buồng ối vượt quá áp lực của hồ huyết (30mmHg) tuần

hoàn gián đoạn trong khoảng 15-60 giây bởi sự chèn ép tĩnh mạch trở về. Tuy nhiên

máu ở hồ huyết có dự trữ oxy để tạm thời cho thai và PO2 trong hồ huyết giữ ổn

định ở 40 mmHg.

Khi sổ thai, áp lực tử cung từ 85-90 mmHg, có thể cao hơn với sức rặn của

người mẹ 100-120 mmHg, tuần hoàn động mạch tử cung bị gián đoạn, hồ huyết bị

gián đoạn dẫn đến sự hạ thấp PO2 và tăng PCO2 có thể dẫn đến suy thai.

Mặt khác, cơn go tử cung quá dày và quá mạnh trong trường hợp cơn go

mau có thể làm nhau bong non như hình minh họa ở trên.

Nguyên nhân: có thể do nguyên phát hoặc thứ phát do sử dụng thuốc tăng

co bóp quá liều và cũng có thể do tử cung tăng co bóp để đẩy thai nhi qua một vật

cản nào đấy như bất xứng đầu chậu hoặc khung chậu hẹp.

Một nghiên cứu hồi cứu của Heuser, (AJOG 2013) tại 10 bệnh viện từ

3/2007-6/2009 trên 50335 sản phụ về TS trong khi chuyển dạ. Người ta thấy TS

liên quan đến sự giảm oxy máu của thai nhi và nhịp tim thai, xảy ra 10-40% trường

hợp và nguyên nhân thường liên quan đến oxytocin.

Hiện nay, cơn go tử cung chỉ phân loại thành 2 loại:

• Cơn go tử cung bình thường: <= 5 cơn go trong 10 phút, trên một

băng ghi 30 phút.

• Cơn go tử cung mau (Tachysystole): >5 cơn go trong 10 phút, trên

một băng ghi 30 phút.

Cơn go tử cung mau (TS) tiếp tục được chia làm 2 loại: Mỗi loại sẽ có thái

độ xử trí khác nhau.

• TS không có thay đổi tim thai

• TS có thay đổi tim thai

Và người ta cũng bỏ 2 khái niệm tăng trương lực cơ bản và cơn go tử cung

cường tính, chỉ sử dụng TS có hay không có thay đổi nhịp tim thai. Thay vào đó là

các yếu tố khác như thời gian co, cường độ và thời gian nghỉ giữa các cơn go cũng

quan trọng trong thực hành lâm sàng.27

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

IV. Phân loại CTG

Hiện tại CTG được phân thành 3 loại theo ACOG:

1. Loại I:

Biểu đồ nhóm này được xem như là bình thường, có giá trị tiên đoán mạnh

mẽ tình trạng thăng bằng acid- base bình thường ở thời điểm khảo sát. Với loại I thì

theo dõi như thường lệ, không cần có hành động xử trí đặc biệt.

Là biểu đồ tim thai gồm tất cả những yếu tố sau:

 Tim thai cơ bản : 110 -160 lần /phút

 Dao động nội tại: trung bình

 Không có nhịp giảm muộn hay biến đổi

 Có thể có nhịp giảm sớm

 Có thể có nhịp tăng

2. Loại II:

Là loại không xác định, nó không đủ tin cậy để dự đoán tình trạng thăng

bằng kiềm toan bất thường, không đủ bằng chứng để phân loại như nhóm I và III.

Loại II cần được đánh giá, theo dõi và đánh giá lại phù hợp với hoàn cảnh lâm sàng.

Trong 1 số trường hợp cần sử dụng các test phụ trợ để đảm bảo tình trạng thai nhi

khỏe mạnh.

Tim thai cơ bản ( TTCB) :

 TTCB chậm không kèm mất dao động nội tại (DĐNT)

 TTCB nhanh

Dao động nội tại (DĐNT):

 DĐNT tối thiểu

 DĐNT giảm và không có nhịp giảm lặp lại

 Tăng DĐNT

Nhịp tăng

Không có nhịp tăng sau kích thích thai

Nhịp giảm

 Nhịp giảm bất định lập lại với DĐNT bình thường hay tối thiểu28

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

 Nhịp giảm kéo dài hơn 2 phút nhưng < 10 phút

 Nhịp giảm muộn lập lại với DĐNT bình thường

 Nhịp giảm bất định lập lại kèm: TTCB chậm, nhịp tăng sau giảm

3. Loại III:

Luôn kết hợp với tình trạng mất thăng bằng kiềm toan đáng lo ngại ở thời

điểm khảo sát. Biểu đồ tim thai Loại III cần phải được đánh giá nhanh chóng, thực

hiện các biện pháp có thể bao gồm: cung cấp oxy cho mẹ, thay đổi tư thế, ngừng

mọi kích thích tới quá trình chuyển dạ, điều trị tình trạng hạ huyết áp của mẹ, điều

trị cơn go mau đi kèm với nhịp tim thai thay đổi. Nếu các phương pháp đó không

giải quyết được cần thêm tình trạng lâm sàng và có quyết định can thiệp thích hợp.

Không có DĐNT với bất kì yếu tố sau:

 Nhịp giảm muộn lặp lại

 Nhịp giảm biến đổi lặp lại

 TTCB chậm

Nhịp dạng SIN

V. Stress test và non- stress test

Theo dõi nhịp tim thai liên tục bằng máy trước khi chuyển dạ nhằm đánh

giá tình trạng thiếu oxy của thai qua đó đánh giá và chẩn đoán suy thai.

Có hai loại theo dõi nhịp tim thai:

• Loại không kích thích để gây ra cơn co tử cung còn gọi là thực

nghiệm không kích thích (non stress test)

• Loại kích thích gây cơn co tử cung còn gọi là thử nghiệm kích thích

(stress test) có hai phương pháp: kích thích núm vú gây cơn go tử

cung (test núm vú – nipple test) và truyền oxytocin gây cơn go tử

cung (test oxytocin).

1. Non stress test (NST)

Là việc ghi tim thai khi chưa có cơn co tử cung nhằm khảo sát đáp ứng thay

đổi của nhịp tim thai khi có cử động thai.

1.1. Chỉ định

Tất cả phụ nữ có thai đặc biệt là thai nghén có nguy cơ cao:29

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

Bệnh lý người mẹ: bệnh tim, bệnh phổi, bệnh nội tiết, nhiễm độc thai

nghén….

Thử nghiệm không đáp ứng:

o Bệnh lý của thai: thai chậm phát triển trong tử cung, thai non tháng,

thai già tháng,..

o Bệnh lý về phần phụ của thai: rau tiền đạo

1.2. Chống chỉ định

Không có chống chỉ định

1.3. Điều kiện

Tuổi thai từ 28 tuần trở lên

Thực hiện từ 20 – 45 phút

Sản phụ được nằm ở tư thế fowler, hơi nghiên trái

Tiến hành mắc máy monitoring sản khoa.

Sau khi đã đảm bảo mắc máy chuẩn, tiến hành cho chạy máy theo dõi liên

tục không can thiệp bất cứ một kích thích nào khác đối với mẹ cũng như đối với

thai.

Thời gian theo dõi: Thời gian kéo dài hay ngắn còn phụ thuộc vào tình

trạng thực tiến của mỗi trường hợp. Thời gian theo dõi tối thiểu hay sử dụng là 30

phút. Nếu không có gì bất thường đối với nhịp tim thai thì ngừng lại, còn có nghi

ngờ thì lúc đó có thể kéo dài thời gian cần theo dõi.

1.4. Kết quả

Đáp ứng : CTG loại 1

Không đáp ứng: CTG loại 2, 3

Tất cả các trường hợp thử nghiệm không đáp ứng thì cần phải tiến hành thử

nghiệm kích thích gây co cơn tử cung để phát hiện suy thai, nếu các thử ngiệm kích

thích dương tính thì chứng tỏ có thai suy.

1.5. NST không phân tích được

Trong trường hợp nhịp tim thai thu nhận được không rõ ràng không thể

phân loại nhịp tim thai thì chúng ta kết luận là thử nghiệm không phân tích được

phải làm lại sau 24-48 giờ.30

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

1.6. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả

Thai nhi ngủ

Mẹ dùng thuốc ức chế thần kinh.

2. Stress test (ST)

Mục đích của phương pháp này là gây cơn co như chuyển dạ bình thường

để đánh giá mức độ chịu đựng của thai trong chuyển dạ, từ đó có thể cho phép sản

phụ chuyển dạ hay phải can thiệp lấy thai. Nó dựa trên đáp ứng của nhịp tim dưới

sụ co bóp của cơ co tử cung. Tiền đề của phương pháp này là sự thay đổi nồng độ

O2 của thai nhi khi tử cung co thắt, dẫn đến thay đổi nhịp tim có thể tăng hoặc giảm

khi có cơn co.

Có hai phương pháp gây cơn co tử cung trong các test kích thích gây co tử

cung: Nghiệm pháp Oxytocin (test oxytocin) và nghiệm pháp kích thích núm vú

(nipple test).

2.1. Chỉ định

Để đánh giá tình trạng sức khỏe của thai trong thai nghén nguy cơ cao:

Nhiễm độc thai nghén, thai chậm phát triển, thiểu ối, thai già tháng…

2.2. Chống chỉ định

Chống chỉ định tuyệt đối:

• Sẹo mổ cũ: mổ lấy thai, mổ bóc tách nhân xơ tử cung, mổ tạo hình tử

cung

• Rau tiền đạo

• Ra nước ối

Chống chỉ định tương đối:

• Đa ối

• Đa thai

• Tiền sử đẻ thai non tháng

• Có dấu hiệu của dọa đẻ non

• Chảy máu ba tháng cuối chưa xác định nguyên nhân

• Còn chỉ khâu eo tử cung31

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

2.3. Điều kiện

Stress test chỉ thực hiện sau khi đã thực hiện một non- stress test. Nhiều khi

chỉ thực hiện NST cũng đủ để loại việc thục hiện một ST không cần thiết và có thể

gây nguy hiểm cho thai.

Cho sản phụ nằm tư thế Fowler, hơi nghiêng trái

Truyền nhỏ giọt tĩnh mạch oxytocin để tao 3 cơn co tử cung trong 10 phút

(hiện nay dùng bơm điện)

Thực hiện từ 60 đến 90 phút

Khi ngưng Oxytocin phải theo dõi tiếp 15 đến 20 phút nữa mới ngừng

monitor

2.4. Stress test dương tính

Nhịp tim nhanh > 180 lần/ phút

Nhịp tim chậm < 100 lần/ phút

Có nhịp giảm chậm hơn 50% số cơn co tử cung trên biểu đồ (thậm chí nếu

tần số cơn co tử cung bé hơn 3 cơn/ 10 phút)

Nhịp phẳng: mất dao động nội tại (giao động nội tại < 5 nhịp/ phút)

Nhịp giảm bất định đe dọa suy thai

2.5. Stress test âm tính

Không có sự thay đổi của nhịp tim thai về dao động nội tại, nhịp cơ bản,

không có nhịp giảm, thai nhi có khả năng chịu được cuộc chuyển dạ.

2.6. Stress test nghi ngờ

Khi có các bất thường ít hơn 50% số cơn co trên tử cung.

Xuất hiệp nhịp giảm liên tục, hoặc nhịp giảm bất biến, nhịp thai giảm xảy ra

khi xuất hiện cơn co tử cung thường xuyên hơn 2 phút hoặc kéo dài trên 90 giây.

2.7. Stress test không đạt yêu cầu

Không xuất hiện ít nhất 3 cơn co tử cung / 10 phút.32

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

III. Một số dạng CTG đặc biệt

1. Biểu đồ hình sin

Hình 20: Biểu đồ hình sin

Biểu đồ hình sin có dạng sóng sin có đầy đủ các đặc điểm hình thái sau:

• Baseline dạng sóng sin với độ cong nhẹ và mướt

• Tần số ổn định

• Tồn tại trong ≥ 20 phút

Về bản chất biểu đồ hình sin là 1 kiểu biến động của dao động nội tại. Là

1tình huống hiếm gặp và hình ảnh đặc trưng trên lâm sàng, đặc trưng của thiếu máu

bào thai mà thường nhất là thiếu máu tán huyết.

Hình 21: Biểu đồ hình sin giả33

CLB Sản Phụ Khoa | Trường Đại Học Y Dược Huế

Trái lại với biểu đồ hình sin thật, biểu đồ hình sin giả cũng mang dạng hình

sin nhưng không hoàn toàn có các đặc điểm hình thái của biểu đồ hình sin.

• Baseline dạng sóng sin với độ cong thay đổi hay ít mượt mà.

• Tần số không ổn định

• Xảy ra từng lúc ngắn

2. CTG nhau bong non

Hình 22: CTG của một sản phụ bị nhau bong non có dạng hình sin

Nhận xét