PEMBROLIZUMAB ĐÃ BỊ “SOÁN NGÔI” – ÍT NHẤT Ở TRUNG QUỐC?
Nguồn: Ths. BS Trịnh Thế Cường. Xem bài đăng gốc tại đây.
Trong nhiều năm qua, nếu nói đến thuốc miễn dịch trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển thì pembrolizumab (Keytruda) chắc chắn là một trong những cái tên được nhắc đến nhiều nhất.
Ở những bệnh nhân không có đột biến gen điều trị đích như EGFR, ALK và có PD-L1 dương tính, pembrolizumab có thể được dùng đơn độc hoặc phối hợp với hóa trị tùy từng trường hợp.
Từ khi được FDA phê duyệt điều trị bước một ung thư phổi vào năm 2016, Keytruda gần như trở thành một trong những “biểu tượng” của liệu pháp miễn dịch.
Và Keytruda không chỉ là “ông vua” về vị trí điều trị.
Năm 2025, thuốc này mang về khoảng 31,7 tỷ USD doanh thu cho Merck, gần một nửa tổng doanh thu của cả tập đoàn. Chỉ riêng con số đó cũng đủ thấy vị trí của pembrolizumab lớn đến mức nào.
Nhưng tại Hội nghị Ung thư Phổi Thế giới WCLC 2026 ở Seoul, một thuốc mới đã đưa ra kết quả rất đáng chú ý khi được đem so trực tiếp với pembrolizumab.
Tên thuốc là ivonescimab.
Điểm hay của ivonescimab nằm ở cơ chế “2 trong 1”.
Pembrolizumab chủ yếu chặn PD-1, hiểu đơn giản là tháo bớt cái “phanh” đang kìm hãm hệ miễn dịch, từ đó giúp tế bào miễn dịch nhận diện và tấn công tế bào ung thư tốt hơn.
Ivonescimab cũng làm việc đó, nhưng đồng thời còn chặn thêm VEGF.
VEGF là một trong những tín hiệu giúp khối u tạo ra các mạch máu mới để nuôi chính nó. Ngoài chuyện tạo mạch, VEGF còn góp phần tạo nên một môi trường xung quanh khối u khiến hệ miễn dịch hoạt động kém hiệu quả hơn.
Vì vậy có thể hiểu đơn giản thế này:
Pembrolizumab chủ yếu “cởi trói” cho hệ miễn dịch.
Ivonescimab vừa “cởi trói” cho hệ miễn dịch, vừa hạn chế con đường tạo mạch nuôi khối u.
Cơ chế chống VEGF này phần nào khiến chúng ta liên tưởng đến bevacizumab, mặc dù đây là một thuốc hoàn toàn khác về cấu trúc và cách hoạt động.
Nghiên cứu pha III HARMONi-2 tuyển 398 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến triển hoặc di căn, PD-L1 từ 1% trở lên, không có EGFR/ALK phù hợp để điều trị đích và chưa điều trị toàn thân bước một.
Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: một nhóm dùng ivonescimab, nhóm còn lại dùng pembrolizumab. Điểm đáng chú ý là cả hai nhóm đều không phối hợp hóa trị.
Kết quả ban đầu đã rất ấn tượng.
Trung vị thời gian bệnh chưa tiến triển là:
Ivonescimab: 11,1 tháng
Pembrolizumab: 5,8 tháng
Nói cách khác, mốc thời gian mà khoảng một nửa số bệnh nhân đã xuất hiện tiến triển bệnh hoặc tử vong ở nhóm ivonescimab đến muộn hơn khá nhiều so với pembrolizumab.
Nhưng không phải lâu triến triển hơn là sống lâu hơn.
Điều người ta chờ đợi hơn là: thuốc có thực sự giúp bệnh nhân sống lâu hơn hay chỉ làm bệnh chậm tiến triển?
Và tại WCLC 2026, dữ liệu sống còn đã được cập nhật.
Trung vị thời gian sống thêm toàn bộ:
Ivonescimab: 30,8 tháng
Pembrolizumab: 22,6 tháng
Chênh lệch trung vị khoảng 8 tháng.
Nguy cơ tử vong cũng giảm tương đối khoảng 27% với ivonescimab.
Đây chính là lý do kết quả này gây chú ý. Ivonescimab không chỉ làm bệnh chậm tiến triển hơn mà trong nghiên cứu này còn cho thấy lợi ích về sống còn so với pembrolizumab.
Tuy nhiên, có một chi tiết rất quan trọng mà khi đọc nghiên cứu này chúng ta không nên bỏ qua.
Gần 60% bệnh nhân trong HARMONi-2 có PD-L1 từ 1–49%.
Trong thực hành hiện nay, với nhóm PD-L1 1–49%, nếu thể trạng cho phép thì nhiều bệnh nhân thường được điều trị hóa trị kết hợp miễn dịch, chứ không phải pembrolizumab đơn độc.
Vì vậy không nên đọc HARMONi-2 rồi kết luận rằng:
“Ivonescimab đơn trị tốt hơn hóa trị + miễn dịch ở nhóm PD-L1 1–49%.”
Nghiên cứu này không trả lời câu hỏi đó.
Một điểm khác rất đáng chú ý là khi nhìn riêng theo mức độ PD-L1, tín hiệu lợi ích sống còn của ivonescimab lại nổi bật nhất ở nhóm PD-L1 ≥50%.
Ở nhóm này, nguy cơ tử vong giảm khoảng 42% so với pembrolizumab.
Và đây mới thực sự là “sân chơi” thú vị, bởi PD-L1 ≥50% chính là nhóm mà pembrolizumab đơn trị đã giữ một vị trí rất quan trọng trong nhiều năm qua.
Vì vậy, nếu nói ivonescimab đang thực sự “thách thức ngai vàng” của pembrolizumab thì có lẽ nhóm PD-L1 ≥50% là nhóm đáng chú ý nhất.
Còn về tác dụng phụ, nhìn chung hồ sơ an toàn của hai thuốc tương đối gần nhau, nhưng cũng không nên hiểu rằng ivonescimab là thuốc “ít độc hơn”.
Do thuốc còn tác động vào VEGF nên ngoài các tác dụng phụ liên quan đến miễn dịch, bác sĩ còn phải để ý đến những vấn đề có thể liên quan đến con đường VEGF.
Vậy pembrolizumab đã thực sự bị “soán ngôi” chưa?
Theo tôi, chưa thể nói như vậy trên phạm vi toàn thế giới.
HARMONi-2 được thực hiện tại Trung Quốc và ivonescimab hiện đã được phê duyệt tại Trung Quốc cho nhóm bệnh nhân này.
Các nghiên cứu đa quốc gia vẫn đang tiếp tục để xem kết quả rất đẹp ở Trung Quốc có được lặp lại ở những quần thể bệnh nhân khác hay không.
Nhưng có lẽ một điều đã khá rõ:
Sau gần 10 năm giữ vị trí rất vững chắc trong điều trị miễn dịch ung thư phổi, pembrolizumab đã xuất hiện một đối thủ thực sự đáng gờm.
Và nếu các nghiên cứu toàn cầu tiếp tục cho kết quả tương tự, câu chuyện điều trị bước một ung thư phổi PD-L1 dương tính trong vài năm tới có thể sẽ rất khác.
Còn hiện tại, nói “Keytruda đã bị soán ngôi” có lẽ vẫn hơi sớm.
Nhưng nói “ngai vàng đã bắt đầu bị thách thức” thì có lẽ không quá lời.
Nguồn: Ths. BS Trịnh Thế Cường. Xem bài đăng gốc tại đây.
Nhận xét
Đăng nhận xét